Trang chủ >
Đời sống >
Làm gì để thành công trong khoa học?
Làm gì để thành công trong khoa học? 18/01/2012 11:40:40
(SVVN)Đối với nhiều nghiên cứu sinh và sinh viên, câu hỏi thường được đặt ra là: Thế nào là thành công trong khoa học? Giới khoa học đã phát triển những thước đo để định lượng sự thành công của một nhà khoa học. Những thước đo này bao gồm các chỉ số cụ thể như số công trình khoa học, chất lượng công trình khoa học, đạt chức danh giáo sư, thu hút tài trợ cho nghiên cứu, và được trao giải thưởng trong chuyên ngành. Nhưng những thước đo này có khi thiếu tính thực tế và khó áp dụng.
Một đo lường thành công khác là dựa vào lý thuyết vị lợi (utilitarian theory). Thuyết này dựa vào khái niệm cho rằng cái gì tốt phải đem lại phúc lợi cho cộng đồng. Để đáp ứng định nghĩa "thành công" trên, tôi sẽ lấy kinh nghiệm cá nhân cọ xát với môi trường và văn hóa khoa học ở nước ngoài để cung cấp cho các bạn một số lời khuyên cụ thể như sau:
Hãy nhìn la bàn cuộc đời và xác định hướng đi...
Tôi nghĩ điều quan trọng nhất là mình phải biết mình muốn làm gì và hoàn thành cái gì trong cuộc đời, để từ đó chọn cho mình một hướng đi, một môn học cho thích hợp. Có hướng đi, rồi mới đặt ra "outcome" (chỉ tiêu về thành quả) là gì, và cứ thế mà phấn đấu. Nhiều bạn trẻ khi học xong không biết mình muốn làm gì, và mất định hướng, và đó là một điều đáng tiếc. Theo tôi, định hướng chung là đem lại phúc lợi cho cộng đồng, cho dân tộc phải được đặt lên hàng đầu. Và, trong điều kiện hiện nay, tôi nghĩ làm gì để đưa đất nước mình lên một tầm cao hơn trên trường quốc tế là một định hướng chung mà các bạn trẻ nên nghĩ đến. Từ định hướng chung rồi sẽ vạch ra những định hướng cụ thể cho từng cá nhân.
Một trong những vấn đề thường hay thấy ở giới trẻ là họ mất định hướng. Nhiều sinh viên sắp tốt nghiệp cho biết họ cảm thấy bỡ ngỡ, không biết ngành nghề mình chọn có "đúng" hay không. Từ hoang mang dẫn đến nghi ngờ về văn bằng. Có người thậm chí nghĩ rằng mình đã lãng phí thời gian theo học đại học! Tuy nhiên, theo tôi, học hành không bao giờ là một sự lãng phí. Sau khi đã xong chương trình bậc cử nhân, bất cứ ngành nào, người tốt nghiệp đã có một kiến thức về thế giới quan, được rèn luyện để có một cái nhìn tổng thể hơn và được trang bị một tư duy logic và phân tích, tức là những kiến thức và kỹ năng cơ bản rất quan trọng cho bất cứ công việc nào. Chẳng hạn như sinh viên ngành xã hội học, thậm chí nhân văn, vẫn có thể áp dụng những kiến thức và kỹ năng xã hội nhân văn vào những công việc liên quan đến khoa học thực nghiệm.
Có một nghiên cứu ở Mỹ cho thấy những bác sĩ y khoa giỏi thường là những người có bằng cấp cử nhân về nhân văn trước khi theo học y khoa. Do đó, tôi thấy học bất cứ ngành nào, nếu học cẩn thận và chuyên sâu, vẫn rất có ích cho công việc hằng ngày dù công việc đó không đúng với ngành nghề mình tốt nghiệp.
Dù đường gập ghềnh nhưng hãy cứ đi
Trong khi học hành hay làm nghiên cứu, điều đại kỵ là bỏ cuộc, vì do nản chí hay do lys do nào khác. Trong quá trình làm khoa học, có thể vài kết quả không xảy ra như ý muốn của mình, hay trong quá trình học hành nhiều khi thành quả không như mình mong đợi, và nên xem đó là chuyện bình thường. Quan trọng nhất là không nên đầu hàng với khó khăn, mà phải suy nghĩ tìm cách khắc phục khó khăn. Nguyễn Thái Học từng nói "Đường đi khó không phải vì ngăn sông cách núi, mà khó vì lòng người ngại núi e sông". Người phương Tây cũng có câu tương tự: "If there is a will, then there is a way" (nơi nào có ý chí, nơi đó có lối đi). Do đó, không nên vì một vài thất bại mà thối chí, mà phải kiên trì theo đuổi mục tiêu cho bằng được. Có thể không thể hoàn thành bây giờ, nhưng vẫn phải đặt mục tiêu dài hạn cho tương lai.Hãy chọn trường hay trung tâm tốt.
Những trường hay trung tâm tốt, có tiếng trên thế giới là những nơi lý tưởng để học hỏi và làm việc. Người Việt chúng ta có câu "Gần mực thì đen, gần đèn thì sáng", và tôi thấy đây là một câu nói rất thích hợp cho các bạn đang trong quá trình phấn đấu để chọn cho mình một nơi để trau dồi kiến thức và đóng góp cho khoa học. Trong bất cứ ngành nào cũng có nhiều trường đào tạo tiến sĩ hay thạc sĩ, nhưng chất lượng không đồng đều nhau. Trường tốt và có đẳng cấp quốc tế thường đòi hỏi nghiên cứu sinh cao hơn trường bình thường. Trong bóng đá người ta phân biệt giữa đẳng cấp và phong độ; một phân biệt tương tự cũng áp dụng trong khoa học.
Các trường và trung tâm có tiếng là nơi mà sinh viên có cơ hội gặp và trao đổi ý tưởng với những người rất thông minh, hoặc những người ở một "đẳng cấp quốc tế" mà mình có thể học rất nhiều từ họ. Còn những trường xoàng xĩnh thì cơ hội tiếp cận tri thức khoa học tiền phong rất thấp. Đối với nghiên cứu sinh Việt Nam thì có lẽ đây là điều hơi khó, bởi vì nhiều khi người ta cho học bổng mà mình không có lựa chọn, nhưng vẫn phải suy nghĩ đến "hậu sự", khi tốt nghiệp mình sẽ tiếp cận hay làm việc ở một nơi có tiếng tốt.
Chọn thầy cô: "Linh hoạt, độc tài, hay vua chúa"?
Những thầy cô "tốt" ở đây không chỉ là những người có tiếng trên trường quốc tế, mà còn là những người có cách đào tạo nghiên cứu sinh tốt. Thầy cô có tiếng chỉ làm những nghiên cứu tiền phong và có giá trị cao, và họ ở một đẳng cấp rất khác với đám đông. Làm việc hay theo học với thầy cô nổi tiếng, nghiên cứu sinh có lợi thế là cũng được "thơm lây", được hưởng lợi từ danh tiếng của thầy cô mình.
Thầy cô danh tiếng là một điều tốt, nhưng tử tế là một điều tốt khác. Trong khoa học, có nhiều dạng thầy cô, trong đó có thể kể đến 3 dạng chính: Linh hoạt, độc tài, và vua chúa. Thầy cô linh hoạt là người chỉ định hướng cho nghiên cứu sinh, ít can thiệp, và hay tạo điều kiện để nghiên cứu sinh tự do theo đuổi ý tưởng của mình. Thầy cô độc tài là người đòi kiểm soát tất cả những gì nghiên cứu sinh làm và phải làm theo ý của họ, dứt khoát không cho nghiên cứu sinh tự do theo đuổi ý tưởng của mình. Dạng thứ ba là những thầy cô có tính vua chúa, xem nghiên cứu sinh như là nô lệ, là máy sản xuất bài báo để cho họ tiến thân hay hưởng lợi từ công trình của nghiên cứu sinh. Những thầy cô cấp giáo sư thực thụ thường là người linh hoạt, còn dạng độc tài và vua chúa thường là giáo sư cấp thấp hay những người đang phấn đấu để thành giáo sư thực thụ. Trong thời đại Internet, không khó mấy để nhận ra những người thầy cô có tiếng, nhưng khó mà biết thầy cô đó thuộc dạng linh hoạt, độc tài, hay vua chúa. Thật ra, có thể nhìn qua các bài báo trước của các giáo sư và xem vị trí tác giả của họ cũng có thể đoán được họ thuộc dạng gì.
Phải tương tác và hợp tác với đồng nghiệp
Tôi nghiệm ra một điều là để nâng cao năng suất khoa học, nhà khoa học phải tương tác và hợp tác với đồng nghiệp khác chuyên ngành. Nhiều ý tưởng hay thường xuất phát từ những mối tương tác như thế. Không bao giờ chỉ chăm chăm nhìn vào vấn đề theo cái nhìn của ngành mình, mà phải hỏi các đồng nghiệp ngành khác xem họ nghĩ gì về ngành mình và cách làm của mình. Chẳng hạn như các chuyên gia ngành vật lý có khi có những ý tưởng hay cho ngành y khoa, và trong thực tế sự phối hợp của hai ngành này đã dẫn đến nhiều khám phá quan trọng.
Nhìn về cái "big picture" - bức tranh lớn
Làm khoa học, như chúng ta biết là tập trung vào những vấn đề nhỏ, rất chi li, rất chi tiết (gọi là reductionism), nhưng nếu chỉ vùi đầu vào những chuyện như thế thì khó mà đi xa được. Vì thế, dù tập trung tâm trí và sức lực vào "chuyện nhỏ", nhưng lúc nào cũng phải có cái nhìn tổng thể của chuyên ngành để biết mình đang ở đâu và đặt công trình của mình trong bối cảnh của bức tranh toàn cục. Có cái nhìn toàn cục cũng là một cách định hướng tốt cho giai đoạn nghiên cứu sau tiến sĩ. ----- (*) GS.TS Nguyễn Văn Tuấn, Giảng viên cao cấp tại ĐH New South Wales, Australia; Trưởng nhóm nghiên cứu, Viện nghiên cứu Y khoa Garvan, Australia. (Còn tiếp)
|