Trang chủ >
Đời sống >
Nuôi " lính đen" cho nông dân
Nuôi " lính đen" cho nông dân 26/08/2010 12:00:15
(SVVN)Nhóm sinh viên thuộc đội SIFE, trường ĐH Ngoại thương (Cơ sở 2, TP. HCM) đang tiến hành nuôi ruồi “lính đen” – một loại ruồi được nhiều nước trên thế giới sử dụng để phân hủy rác thải hữu cơ rất hữu hiệu. Ngoài khả năng xử lý rác bậc thầy, loài ruồi này còn cung cấp cho người nuôi gia cầm và cá nguồn ấu trùng làm thức ăn chăn nuôi bổ dưỡng. Các bạn sinh viên mong muốn mang tiện ích của loài ruồi lạ này từ phòng thí nghiệm đến với bà con nông dân và cơ sở thức ăn chăn nuôi.
Tình cờ “bắt” được
SIFE (viết tắt của Students In Free Enterprise), là một tổ chức phi lợi nhuận, hỗ trợ cho sinh viên của hơn 1.800 trường đại học tại 47 quốc gia trên thế giới. Mạng lưới SIFE toàn cầu bao gồm các doanh nghiệp, sinh viên và giảng viên các trường đại học. Những sinh viên SIFE tạo thành một đội (SIFE team) cùng phát triển các dự án về cộng đồng, dùng chính những kiến thức học hỏi trên giảng đường để giải quyết những vấn đề thực tế. Các doanh nghiệp sẽ hỗ trợ các dự án này thông qua việc hợp tác, hỗ trợ cá nhân, tư vấn… Mỗi trường đại học sẽ hình thành một đội SIFE và mỗi đội SIFE sẽ được các giáo viên hướng dẫn và trợ giúp. Dự án SIFE có các cấp độ thi khu vực, quốc gia và thế giới. Ban giám khảo sẽ chọn đội thắng cuộc dựa trên tiêu chí là họ tin tưởng dự án của đội đó sẽ mang lại lợi ích lớn nhất cho cộng đồng
|
Tiến sĩ côn trùng học Trần Tấn Việt - đang làm việc tại trường ĐH Nông Lâm TP. HCM - là một trong những người đầu tiên nghiên cứu về ruồi “lính đen”. Theo nghiên cứu của ông, ruồi “lính đen” (tên khoa học là Hermetia Illucens) chỉ cần 14 giờ cho việc xử lý toàn bộ rác sinh hoạt trong một thùng rác 1m3 chứa 14 kg rác, 24 – 48 giờ cho phế phẩm từ quá trình chế biến thực phẩm hay gia súc, 7 – 8 ngày để giải quyết rác hỗn hợp. Trong khi, nếu để ở môi trường tự nhiên, các loại rác trên phải mất 280 ngày mới có thể phân hủy. Điểm đặc biệt của phương pháp này là không gây mùi hôi và không tạo nguồn chất thải. Sau khi ruồi “xử lý”, thể tích rác sẽ giảm 90% so với ban đầu. Ngoài ra, cứ một tấn rác từ phương pháp xử lý trên còn cho thu 200 kg nhộng - một loại thức ăn rất giàu dinh dưỡng cho gia cầm và cá.
Những thông tin đầu tiên về nghiên cứu của TS Việt được các bạn đội SIFE, trường ĐH Ngoại thương tình cờ “chộp” được. Ngay tức khắc, các bạn hình thành ý tưởng sẽ nuôi ruồi thành một quy trình và chuyển giao cho người dân. Bạn Phạm Minh Ngọc, Chủ nhiệm SIFE, cho biết: “Khi ý tưởng này được đưa ra sàn đấu giá ý tưởng để thực hiện, tụi mình đánh giá cái hay của nó vừa ở sự thân thiện với môi trường, vừa là giá trị kinh tế của nó hướng đến cộng đồng, cụ thể là những người nông dân”.
Để thuyết phục các chủ cơ sở sản xuất thức ăn gia cầm và cá cũng như người nông dân nuôi ruồi “lính đen”, 6 bạn thuộc nhóm chủ chốt thực hiện dự án xuôi ngược liên lạc với TS Trần Tấn Việt. Thấy được ý nghĩa cộng đồng của dự án, TS Việt gật đầu cung cấp ruồi giống. Các bạn hì hục làm thùng rác mẫu để nuôi ruồi. Mất hai ngày để làm được một thùng rác đặc biệt có đủ độ ẩm, ánh sáng, có các ngăn để khi vứt rác vào ruồi xử lý nhanh. Quan trọng hơn nữa, phải thiết kế một chiếc khay bên dưới để ruồi đẻ trứng. Người nuôi ruồi chỉ cần tính toán chu kỳ ruồi đẻ trứng để rút khay lấy ấu trùng ra làm thức ăn cho cá và gia cầm.
Gởi gắm “phận ruồi” cho nông dân
Dân Ngoại thương, không rành về kỹ thuật chăn nuôi nên các bạn tuyển thêm cộng tác viên là các bạn sinh viên Nông Lâm. “Thời gian tụi mình tiến hành nuôi, khí hậu khá khắc nghiệt, lũ ruồi không sinh trưởng đúng quy trình. Tụi mình phải cố gắng để quy trình sinh sản của ruồi tương hợp với tính toán. Khi đưa ra ứng dụng thực tế ở hộ dân, cần có sự chuẩn xác trong cách chăm sóc ruồi để mang lại ích lợi nhanh nhất cho người dân” – Minh Ngọc cho biết.
Song song với nuôi thử nghiệm, các bạn cũng tiến hành đi tìm nơi “gởi gắm” bầy ruồi. Các bạn chọn khu vực xã Tân Nhựt ở huyện Bình Chánh (TP. HCM) là nơi có nhiều hộ dân nuôi cá và có nhiều rác thải cần xử lý. Không dễ dàng để người dân chấp nhận nuôi loại ruồi này. Ngọc kể: “Trong suy nghĩ của người dân, ruồi mang đến dịch bệnh, đáng xua đuổi, tiêu diệt. Chưa kể đây là một loài ruồi lạ, cái tên cũng lạ lùng. Tụi mình phải thuyết phục bà con rằng, đây là một loài ruồi rất có ích với môi trường và chăn nuôi. Cuối cùng, có hai hộ dân gật đầu đồng ý sẽ nuôi thí điểm khi quy trình nuôi của tụi mình hoàn tất. Tụi mình mừng lắm, vừa hoàn tất quy trình vừa hướng dẫn từng bước cho bà con. Nếu những quy trình này được ứng dụng rộng rãi, thì không gì tuyệt hơn!”.
Lê Ngọc Sơn
|